Tin chi tiết
PHẦN V: VIỆC DẠY GIÁO LÝ TRONG GIÁO HỘI ĐỊA PHƯƠNG - CHƯƠNG I: Tác nhân và thừa tác vụ huấn giáo trong Giáo Hội địa phương (10/11/11, 5:26 pm)

 

“Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai,để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3,13-15).

“Đức Giêsu nói với ông : “Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”. (Mt 16,17-18).

Hội thánh Giêrusalem được Chúa Thánh Thần tác động đã sinh ra các Hội Thánh: “Hội Thánh Giêrusalem” (Cv 8,1); “Hội Thánh của Chúa đã được lập ở Côrintô” (1Cr 1,2); “Các Hội Thánh Châu Á” (1Cr 16,19); “Những Hội Thánh ở Giuđêa” (Gl 1,22); “Bảy Hội Thánh: Êphêsô, Smyrne, Pergame, Thyatire, Sardes, Philadelphie, Laodicê” (Cv 2,1-3,22).


Ý nghĩa và mục đích của phần này

215.     Tất cả những gì các phần trước trình bày về vấn đề huấn giáo, nội dung, sư phạm và học viên đều qui về mục vụ giáo lý sẽ được chu toàn tại mỗi Giáo Hội địa phương.

            Phần thứ năm trình bày những yếu tố chính của công việc mục vụ ấy.

           

216.     Chương một đề ra suy nghĩ về thừa tác vụ huấn giáo và về những người thi hành thừa tác vụ ấy. Dạy giáo lý là một trách nhiệm chung nhưng phân biệt nhau. Các Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và giáo dân phải dấn thân vào đó tùy theo mức độ trách nhiệm và những đặc sủng riêng mình.

            Việc đào tạo các giáo lý viên, là nội dung của chương hai, đóng vai trò quyết định trong sinh hoạt dạy giáo lý. Vì nếu việc trang bị cho huấn giáo những công cụ tương xứng là quan trọng, thì việc chuẩn bị những giáo lý viên tốt còn quan trọng hơn nữa.

            Chương ba phân tích việc dạy giáo lý trong những hoàn cảnh cụthể.

            Chương bốn khảo sát những khía cạnh đặc biệt liên quan đến việc tổ chức dạy giáo lý, những cơ quan có trách nhiệm, sự bố trí và một vài nhiệm vụ riêng biệt của việc dạy giáo lý.

Những hướng dẫn và những đề xuất trình bày trong phần này không thể áp dụng một cách tức thời và đồng thời trong mọi miền của Hội Thánh. Thực vậy, những gì liên quan đến các quốc gia, các địa phương mà hoạt động giáo lý chưa phát triển đủ, thì những hướng dẫn và những đề xuất này chỉ nhằm lưu ý đến một loạt những mục tiêu cần dần dần đạt tới.


CHƯƠNG I

Tác nhân và thừa tác vụ huấn giáo trong

Giáo Hội địa phương


GiáoHội địa phương[1]


217.     Giáo Hội địa phương[2]hay giáo phận[3]là nơi mà Tin Mừng được rao giảng, truyền đạt và sống. Giáo Hội địa phương được hình thành bởi cộng đoàn các môn đệ Chúa Giêsu Kitô[4], trong một không gian văn hóa xã hội nhất định. Hội Thánh hoàn vũ hiện diện trong mỗi Giáo Hội địa phương “với tất cả những yếu tố chính yếu của mình”[5]. Hội Thánh hoàn vũ mà tế bào đầu tiên được Chúa Thánh Thần tác tạo nên vào ngày lễ Ngũ Tuần, “sinh ra những Giáo Hội địa phương như những người con gái riêng của mình và tự biểu lộ mình trong những người con gái ấy”[6]. Như thế, Hội Thánh hoàn vũ, thân mình Đức Kitô, cũng được biểu hiện như “Thân mình của Giáo Hội”[7].


218.     Giáo Hội địa phương được xây dựng trên hai cột trụ là Bí tích Thánh Thể và việc loan báo Tin Mừng, đồng thời cũng được tập hợp lại xung quanh hai cột trụ đó. Như Hội Thánh hoàn vũ, Giáo Hội địa phương “hiện diện là để rao giảng Tin Mừng”[8].

            Việc dạy giáo lý là một hoạt động rao giảng Tin Mừng căn bản nơi mỗi Giáo Hội địa phương. Qua đó giáo phận đề xuất cho mỗi thành viên của mình và cho những người ước muốn đến gần Chúa Giêsu Kitô, một thời gian đào tạo giúp họ hiểu biết, cử hành, sống và loan báo Tin Mừng trong môi trường văn hóa riêng của họ. Như vậy, việc tuyên xưng đức tin - đối tượng của huấn giáo - có thể được công bố bởi các môn đệ Chúa “trong chính ngôn ngữ của họ”[9]. Ngày lễ Ngũ Tuần làm sao thì ngày nay cũng vậy, Hội Thánh Đức Kitô “hiện diện và hành động”[10]trong các Giáo Hội địa phương “nói đủ mọi thứ tiếng”[11], vì giống như một cây lớn lên, Hội Thánh cắm rễ vào tất cả các nền văn hóa.


Thừa tác vụ huấn giáo trong Giáo Hộiđịa phương

219.     Trong các thừa tác vụ và những công việc phục vụ mà qua đó Giáo Hội địa phương chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình, thì thừa tác vụ dạy giáo lý chiếm vị trí đặc biệt[12]. Sau đây là một vài khía cạnh:

            a) Trong giáo phận, dạy giáo lý là một công việc duy nhất[13], được hoàn thành nhờ sự hợp tác giữa các linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân, trong sự thông hiệp với Giám mục. Tất cả cộng đoàn Kitô hữu phải cảm thấy có trách nhiệm đối với công việc này. Nhưng dù các linh mục, tu sĩ và giáo dân có cùng chung việc dạy giáo lý thì mỗi đấng bậc lại theo một cách riêng tùy vai trò của mình trong Giáo Hội (với tư cách là người có chức thánh, người khấn dòng hay là giáo dân)[14].Qua họ và tùy vai trò của mỗi người mà thừa tác vụ huấn giáo sẽ cống hiến Lời Chúa và nên chứng tá cho Hội Thánh một cách đầy đủ. Nếu một trong những hình thức hiện diện này thiếu vắng, thì việc huấn giáo sẽ mất đi một phần ý nghĩa và tính phong phú của nó.

            b) Đàng khác đây là một công việc mang tính cách Giáo Hội nên không thể thiếu cho sự trưởng thành của Hội Thánh. Đó không phải là một hành động chỉ được hoàn tất trong cộng đoàn với tính cách riêng tư, hay như một sáng kiến hoàn toàn cá nhân, nhưng là một hành động nhân danh Hội Thánh với tư cách là một sứ mạng được Hội Thánh giao phó cho.

            c) Trong tất cả những thừa tác vụ và công việc của Hội Thánh, thì thừa tác vụ huấn giáo mang tính cách đặc thù riêng, xuất phát từ nét đặc trưng của hoạt động giáo lý trong tiến trình rao giảng Tin Mừng. Vai trò của giáo lý viên, hiểu như nhà giáo dục đức tin, cũng khác với vai trò của những thừa tác viên khác trong công việc mục vụ (như phụng vụ, việc bác ái, công tác xã hội…), cho dù dĩ nhiên là phải hoạt động liên đới với nhau.

            d) Để đạt được hiệu quả, thừa tác vụ dạy giáo lý trong giáo phận cần phải có những tác nhân khác, không nhất thiết phải là các giáo lý viên, nâng đỡ sinh hoạt giáo lý, hầu chu toàn những bổn phận cần thiết như: đào tạo giáo lý viên, điều hành vấn đề vật chất, suy tư, tổ chức và hoạch định chương trình. Những tác nhân đó cùng với các giáo lý viên đều phục vụ cho thừa tác vụ duy nhất của địa phận là việc dạy giáo lý, dù tất cả không đóng cùng một vai trò hay mang cùng một tước hiệu.

 

Cộng đoàn Kitô hữu và trách nhiệm dạy giáo lý

220.     Dạy giáo lý là trách nhiệm của tất cả cộng đoàn. Thực vậy, khai tâm Kitô giáo “không phải chỉ là công việc của các giáo lý viên hay của các linh mục mà thôi, mà còn là công việc của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu”[15]. Cũng thế, việc giáo dục thường xuyên về đức tin là bổn phận của tất cả cộng đoàn. Vì vậy, dạy giáo lý là một sinh hoạt giáo dục mà mỗi thành viên của cộng đoàn phải thi hành với trách nhiệm riêng của mình, trong một bối cảnh hay môi trường có tính cộng đoàn giàu mối quan hệ với nhau. Những mối quan hệ ấy sẽ giúp cho các tân tòng và những người học giáo lý hòa nhập và tham gia sinh động vào đời sống của cộng đoàn.

            Cộng đoàn Kitô hữu phải theo sự phát triển của qui trình giáo lý, dù là với trẻ em, thanh niên hay người trưởng thành, như một yếu tố liên đới với cộng đoàn và khiến cộng đoàn phải dấn thân một cách trực tiếp[16]. Ngoài ra, sau một khóa giáo lý, cũng chính cộng đoàn Kitô hữu phải đón tiếp những người đã học giáo lý vào môi trường huynh đệ “trong đó họ có thể sống một cách trọn vẹn nhất những gì họ đã học”[17].


221.     Nếu cộng đoàn Kitô hữu giúp nhiều cho những người học giáo lý, thì cũng sẽ nhận lại nhiều. Những người mới trở lại đạo, nhất là người trẻ và người trưởng thành, do kết hợp với Chúa Giêsu Kitô, sẽ đem lại cho chính cộng đoàn đã tiếp nhận họ sự phong phú mới, cả về mặt nhân bản lẫn tôn giáo. Như thế cộng đoàn được lớn lên, được phát huy, vì huấn giáo không chỉ đưa người học đến sự trưởng thành đức tin mà còn hướng cả cộng đoàn đến mức trưởng thành như vậy.

            Mặc dù toàn thể cộng đoàn Kitô hữu đều có trách nhiệm về việc dạy giáo lý và tất cả các thành viên đều phải làm chứng cho đức tin, nhưng chỉ có một số người được Hội Thánh uỷ nhiệm để trở thành giáo lý viên. Như sứ mạng đầu tiên của các bậc cha mẹ đối với con cái, Hội Thánh trao một cách chính thức cho một số thành viên của Dân Chúa, đã được mời gọi cách đặc biệt, sứ mạng tế nhị là truyền đạt đức tin một cách có hệ thống ngay trong cộng đoàn[18].

 

Giám Mục là người chịu trách nhiệm đầu tiên đối với vấn đề huấn giáo của Giáo Hội địa phương

222.     Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của việc loan báo và truyền đạt Tin Mừng đối với thừa tác vụ Giám Mục: “Trong số các sứ vụ chính của Giám Mục, việc rao giảng Lời Chúa là nhiệm vụ hàng đầu”[19]. Khi chu toàn bổn phận này, các Giám Mục trước tiên phải là những “người công bố đức tin”[20], tìm cách đưa về cho Đức Kitô những người môn đệ mới, đồng thời phải là những “tiến sĩ đích thực”[21], truyền đạt niềm tin phải tuyên xưng và phải sống cho Dân Chúa đã được giao phó cho các ngài. Trong thừa tác vụ tiên tri của các ngài, việc rao giảng và dạy giáo lý là hai lãnh vực được liên kết chặt chẽ với nhau. Để thực hiện chức năng này, các Giám Mục nhận được “đặc sủng chắc chắn về chân lý”[22].

            Các Giám Mục là “những người có trách nhiệm đầu tiên về việc dạy giáo lý, và phải là những giáo lý viên tuyệt vời”[23]. Trong lịch sử Hội Thánh, người ta biết đến vai trò nổi bật của những đại thánh Giám Mục mà sáng kiến và những bản văn của họ đã đánh dấu một giai đoạn sáng ngời trong việc thiết lập thời kỳ dự tòng. Các ngài đã quan niệm dạy giáo lý như là một trong những nhiệm vụ căn bản thuộc thừa tác vụ của mình[24].


223.     Sự chăm lo về hoạt động giáo lý phải đưa Giám Mục tới việc đảm nhận trách nhiệm “hướng dẫn tối cao”[25]của công cuộc này nơi Giáo Hội địa phương. Do đó các ngài phải :

          - Đảm bảo ưu tiên hàng đầu cho việc dạy giáo lý đầy sinh động và hữu hiệu trong Giáo Hội của mình, bằng cách “vận dụng nhân sự, phương tiện và cả những nguồn lực cần thiết”[26].

         - Thăng tiến việc dạy giáo lý bằng cách can thiệp trực tiếp vào công việc truyền đạt Tin Mừng cho các tín hữu. Đồng thời cũng quan tâm đến tính xác thực của lời tuyên xưng đức tin và chất lượng của những bản văn cũng như của những phương tiện được sử dụng[27].

            - “Khuyến khích và duy trì tinh thần say mê thực sự việc dạy giáo lý: một niềm say mê được chứng tỏ qua những tổ chức thích hợp và hiệu quả”[28], với sự xác tín sâu xa về tầm quan trọng của huấn giáo trong đời sống Kitô hữu của một giáo phận.

            - Phải làm sao để “các giáo lý viên được chuẩn bị phù hợp với nhiệm vụ của mình. Giúp họ hiểu biết sâu hơn về giáo lý của Hội Thánh, học hỏi về các nguyên tắc tâm lý và sư phạm”[29]cả trong lý thuyết lẫn thực hành.

            - Phải thiết lập trong giáo phận một dự án tổng quát về huấn giáo, rõ ràng và mạch lạc. Dự án đó phải đáp ứng những nhu cầu thực sự của giáo dân và phải dựa trên những chương trình mục vụ của giáo phận một cách hợp lý. Khi thực hiện, dự án đó có thể được hòa hợp với những chương trình của Hội đồng Giám Mục.

 

Các linh mục là mục tử và nhà giáo dục của cộng đoàn Kitô hữu

224.     Chức năng riêng biệt của linh mục trong huấn giáo xuất phát từ Bí tích Truyền Chức Thánh mà các ngài đã lãnh nhận. Bởi Bí tích ấy, qua việc xức dầu của Chúa Thánh Thần, các linh mục đã nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Linh mục, như những thừa tác viên của Đầu, để xây dựng và củng cố tất cả Thân Mình Người là Hội Thánh, với tư cách là cộng tác viên của chức Giám Mục[30]. Từ sự đồng dạng về bản thể với Đức Kitô, thừa tác vụ của các linh mục là một công việc phục vụ làm khuôn mẫu cho cộng đoàn, điều phối và củng cố những việc phục vụ và đặc sủng khác. Đối với những gì liên quan đến huấn giáo, thì do Bí tích Truyền Chức đã lãnh nhận, các linh mục là những “nhà giáo dục đức tin”[31]. Vậy các ngài phải làm thế nào để các tín hữu trong cộng đoàn được đào tạo cách phù hợp và đạt tới sự trưởng thành của người Kitô hữu[32]. Đàng khác, ý thức rằng “chức tư tế thừa tác”[33]là để phục vụ cho “chức tư tế chung của các tín hữu”[34], các linh mục khuyến khích ơn gọi và công việc của các giáo lý viên bằng cách giúp họ hoàn thành một chức năng khơi nguồn từ Bí tích Rửa tội và được thi hành nhờ sứ mạng Hội Thánh giao cho. Như thế, các linh mục thực thi điều Công đồng Vaticanô II nhắc nhở là “phải nhận biết và làm thăng tiến phẩm giá người giáo dân và những chức năng riêng của họ trong sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh”[35].


225.     Sau đây là những công việc riêng của linh mục, đặc biệt là linh mục chánh xứ, trong việc huấn giáo[36]:

            - Thúc đẩy trong cộng đồng Kitô hữu tinh thần trách nhiệm chung đối với việc dạy giáo lý, là một tác vụ đòi sự dấn thân của mọi tín hữu. Đồng thời nhìn nhận và đề cao các giáo lý viên và sứ mạng của họ.

            - Chăm lo việc tổ chức căn bản việc dạy giáo lý, cũng như lo cho có một chương trình phù hợp bằng cách giúp cho các giáo lý viên tham dự một cách tích cực và cho nền giáo lý có được cấu trúc cũng như hướng dẫn tốt[37].

            - Khuyến khích và phân biệt những ơn gọi phục vụ cho việc dạy giáo lý, đồng thời với tư cách là vị giáo lý viên trên hết, linh mục phải quan tâm đến việc đào tạo giáo lý viên bằng cách dành cho nó sự chăm sóc chu đáo nhất.

            - Đưa sinh hoạt giáo lý vào kế hoạch loan báo Tin mừng của cả cộng đoàn, đặc biệt quan tâm đến mối liên lạc giữa giáo lý với Bí tích và Phụng Vụ.

            - Đảm bảo việc dạy giáo lý của cộng đoàn mình được hòa hợp với những chương trình mục vụ cấp giáo phận, bằng cách giúp các giáo lý viên cộng tác sống động vào kế hoạch chung của giáo phận.

            Kinh nghiệm cho thấy rằng phẩm chất việc dạy giáo lý của một cộng đoàn tùy thuộc phần lớn vào sự hiện diện và hoạt động của linh mục.

 

Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên về đức tin của con cái mình[38]


226.     Chứng tá đời sống Kitô hữu mà cha mẹ dành cho con cái trong gia đình bao gồm sự trìu mến và tôn trọng của cả cha lẫn mẹ. Như thế, con cái sẽ nhận biết và sống cách vui vẻ, tình thân với Thiên Chúa và Chúa Giêsu được biểu lộ nơi cha mẹ. Kinh nghiệm Kitô giáo đầu tiên đó sẽ để lại dấu ấn trong suốt cả cuộc đời. Sự khơi dậy ý thức tôn giáo cho tuổi thơ trong gia đình là một điều “không thể thay thế được”[39].

            Bước khai tâm đầu tiên ấy được củng cố khi “người ta chịu khó nói cho các em hiểu ý nghĩa Kitô giáo hay tôn giáo của các dịp lễ hay các biến cố”[40]trong đời sống gia đình. Bước khai tâm này sẽ được đào sâu thêm nếu cha mẹ biết giải thích và giúp con cái nội tâm hóa cách có phương pháp hơn bài học giáo lý mà chúng nhận được nơi cộng đoàn Kitô hữu. Thực vậy, “giáo lý gia đình đi trước, đi kèm và làm phong phú mọi hình thức giáo lý khác”[41].


227.     Cha mẹ đã nhận được nơi Bí tích Hôn nhân ân sủng và trách nhiệm phải cho con cái một nền giáo dục Kitô giáo[42]. Đối với chúng, họ phải làm chứng bằng cách truyền đạt những giá trị nhân bản và tôn giáo. Hoạt động giáo dục vừa nhân bản vừa tôn giáo đó là một “thừa tác vụ đích thực”[43]qua đó Tin Mừng phải được truyền đạt và chiếu tỏa, sao cho đời sống gia đình trở nên một hành trình đức tin và một trường dạy đời sống Kitô hữu. Dần dần khi các em lớn lên, cuộc trao đổi sẽ trở nên hỗ tương và “trong cuộc đối thoại có tính cách giáo lý như vậy mỗi người đều nhận được và cho đi”[44].

            Vì thế, cộng đoàn Kitô hữu phải đặc biệt quan tâm đến các bậc cha mẹ. Nhờ những cuộc tiếp xúc cá nhân, những cuộc gặp gỡ, những khóa học hỏi và cả việc dạy giáo lý người lớn dành cho các bậc cha mẹ sẽ giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ của mình, một nhiệm vụ rất tế nhị trong thời nay, đó là giáo dục đức tin cho con cái. Điều này lại càng cấp bách hơn nữa trong những nơi mà xã hội không cho phép hoặc làm cho việc tự do giáo dục đức tin thêm khó khăn[45]. Trong hoàn cảnh đó, “Hội Thánh tại gia”[46]quả là môi trường duy nhất giúp thiếu nhi và thanh thiếu niên có thể nhận được một nền huấn giáo đích thực.

 

Các tu sĩ trong việc giảng dạy giáo lý

228.     Hội Thánh kêu gọi cách riêng các tu sĩ tham dự vào những hoạt động giáo lý và ước mong “các cộng đoàn tu trì dành tối đa những nỗ lực và khả năng của họ vào công cuộc chuyên môn này”[47].

            Sự đóng góp đặc biệt của các tu sĩ nam nữ và của thành viên các hội dòng hoạt động tông đồ về lãnh vực giáo lý phát sinh từ nếp sống riêng biệt của họ. Việc tuyên khấn những lời khuyên Phúc Âm làm thành nét đặc trưng của đời tu, là một ân huệ cho cả cộng đoàn Kitô hữu. Trong sinh hoạt giáo lý của giáo phận, sự đóng góp đặc biệt ấy không thể được thay thế bằng sự đóng góp dù là của linh mục hay của giáo dân. Sự đóng góp độc đáo ấy xuất phát từ việc làm chứng công khai về sự tận hiến của mình, khiến họ trở thành những dấu chỉ sống động của thực tại Nước Trời: “Chính việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm trong một nếp sống cố định được Hội Thánh nhìn nhận, khiến việc tận hiến cho Chúa mang tính chất đặc trưng”[48]. Dù mỗi tín hữu đều được mời gọi sống các giá trị Tin Mừng, nhưng những người thánh hiến mới “là hiện thân của một Hội Thánh đang ước ao sống triệt để các mối phúc thật”[49]. Chứng từ của các tu sĩ liên kết với chứng từ của giáo dân cho thấy bộ mặt duy nhất của Hội Thánh là dấu chỉ của Nước Trời[50].


229.     “Nhiều gia đình dòng tu nam nữ được thành lập để lo việc giáo dục Kitô giáo cho các trẻ em và thanh thiếu niên, nhất là những người bị bỏ rơi hơn cả”[51]. Trung thành với đoàn sủng của các đấng sáng lập, ngày nay có nhiều nam nữ tu sĩ cộng tác vào việc dạy giáo lý cho người lớn trong giáo phận. Theo dòng lịch sử, “những nam nữ tu sĩ đã tỏ ra rất dấn thân vào sinh hoạt giáo lý của Hội Thánh”[52].

            Khi dấn thân như vậy, các tu sĩ vẫn không coi nhẹ ơn đoàn sủng của thời sáng lập[53]. Chẳng những không làm mất đi tính chất đặc thù của huấn giáo mà đặc sủng của các hội dòng khác nhau còn in vào công việc giảng dạy này những dấu ấn sâu sắc nhất về tôn giáo, xã hội và sư phạm. Lịch sử huấn giáo biểu lộ sức sống mãnh liệt mà các đặc sủng đó đã đem lại cho hoạt động giáo dục của Hội Thánh.

 

Những giáo lý viên giáo dân

230.     Hoạt động giáo lý của giáo dân cũng mang một tính cách riêng biệt do vai trò của họ trong Hội Thánh: “Tính cách thế tục là một cái gì riêng tư và đặc biệt cho người giáo dân”[54]. Họ thực hiện việc dạy giáo lý từ khi hội nhập vào thế giới, bằng cách chia sẻ mọi hình thức dấn thân với những người nam và người nữ khác, đem lại sự nhạy bén và những ấn tượng đặc biệt cho việc truyền đạt Tin Mừng: “Việc rao giảng Tin Mừng này… đạt được một số dấu chỉ đặc thù và một hiệu quả riêng biệt xuất phát từ việc được hoàn thành trong những điều kiện chung của thời đại”[55].

            Thực vậy, nhờ việc chia sẻ cách sống của những người họ dạy giáo lý, các giáo lý viên giáo dân sẽ có một nhạy cảm đặc biệt để đem Tin Mừng vào đời sống cụ thể của người khác. Những người dự tòng và những người học giáo lý có thể thấy được nơi các giáo lý viên giáo dân một mẫu người Kitô hữu mà họ sẽ sống như vậy trong tương lai đời tín hữu của họ.


231.     Ơn gọi của người giáo dân vào việc dạy giáo lý xuất phát từ bí tích Rửa tội và được củng cố bằng bí tích Thêm sức. Nhờ hai bí tích này mà người giáo dân được tham dự vào “chức vụ Tư tế, Tiên tri và Vương đế của Đức Kitô”[56]. Thêm vào ơn gọi chung làm tông đồ, một số giáo dân cảm thấy được Thiên Chúa kêu gọi nơi nội tâm để đảm nhận trách vụ giáo lý viên. Hội Thánh khuyến khích, phân định ơn gọi này và giao cho họ nhiệm vụ dạy giáo lý. Cũng thế, Chúa Giêsu đã mời gọi cách đặc biệt những người nam và nữ đi theo Người, là người thầy và là nhà đào tạo các môn đệ. Lời mời gọi riêng tư của Chúa Giêsu Kitô và mối quan hệ mật thiết với Người phải là động cơ thực sự cho mọi hoạt động của giáo lý viên. “ Từ sự hiểu biết đầy yêu thương về Đức Kitô mà phát sinh ước muốn loan báo về Người, ước muốn rao giảng Tin Mừng và dẫn đưa người khác đáp lại tiếng “xin vâng” của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô”[57].

            Việc cảm thấy mình  được gọi làm giáo lý viên và đón nhận sứ mạng đó từ Hội Thánh có thể mang nhiều mức độ nhiệt tình khác nhau, tùy theo tính chất riêng của mỗi người. Đôi khi giáo lý viên cộng tác vào việc dạy giáo lý chỉ một thời gian ngắn hoặc mang tính cách cơ hội, nhưng sự phục vụ và sự cộng tác ấy cũng không kém phần quý giá. Tuy nhiên, vì tầm quan trọng của thừa tác vụ dạy giáo lý, trong giáo phận nên có một số tu sĩ và giáo dân kiên trì hy sinh với lòng quảng đại cho công việc này. Được nhìn nhận cách chính thức là giáo lý viên, liên kết với các linh mục và Giám mục, họ sẽ góp phần đem lại cho việc dạy giáo lý nơi giáo phận sự đồng dạng đồng hình với Hội Thánh, vốn là nét riêng của việc giảng dạy giáo lý[58].

 

Những mẫu giáo lý viên đặc biệt cần thiết cho thời nay

232.     Vì việc dạy giáo lý phải đáp ứng cho những nhu cầu khác nhau, nên mẫu người và dung mạo của giáo lý viên trong Hội Thánh cũng mang nhiều hình thái:

            - “Giáo lý viên nơi xứ truyền giáo[59]mang tước hiệu giáo lý viên đúng nhất. “Ngày nay, ngay những Giáo Hội phồn thịnh cũng không thể được xây dựng mà thiếu họ”[60]. Một số có “nhiệm vụ đặc biệt dạy giáo lý”[61]; còn số khác thì “cộng tác vào những hình thức hoạt động tông đồ khác nhau”[62].

            - Trong một số Giáo Hội lâu đời, do thiếu giáo sĩ cách trầm trọng, một cách nào đó đòi phải có mẫu giáo lý viên tương tự như ở các xứ truyền giáo. Vì ở đấy, Giáo Hội phải đối phó với những nhu cầu cấp bách như: sự sinh hoạt nơi những cộng đoàn thuộc vùng nông thôn ít dân cư thường xuyên thiếu linh mục, hoặc nhu cầu cần thiết phải có sự hiện diện của các thừa sai nơi “những khu phố bình dân của các thành phố lớn[63].

            - Trong những xứ có truyền thống Công giáo đang cần một công cuộc “tân Phúc Âm hóa”[64], thì gương mặt giáo lý viên cho thanh thiếu niênngười trưởng thành lại càng không thể thiếu, để linh hoạt các tiến trình giáo lý khai tâm. Họ cũng phải hy sinh cho việc dạy giáo lý thường xuyên. Trong tất cả những nhiệm vụ đó, vai trò của linh mục vẫn luôn là nền tảng.

            - Gương mặt giáo lý viên cho trẻ nhỏ, thiếu nhi và thiếu niên vẫn là căn bản. Giáo lý viên nhận lãnh sứ mạng tế nhị là cung cấp “những khái niệm đầu tiên về giáo lý cho trẻ và chuẩn bị chúng lãnh nhận bí tích Hòa Giải, Thánh Thể và Thêm Sức”[65]. Ngày nay công việc này còn cấp bách hơn, khi các em bé và các thanh thiếu niên “không nhận được nơi gia đình một nền giáo dục tôn giáo xứng hợp”[66].

            - Một mẫu giáo lý viên cần phải được đào tạo nữa là giáo lý viên dành cho những cuộc gặp gỡ chuẩn bị chịu các bí tích[67]. Họ được dành cho giới trưởng thành, đặc biệt khi chuẩn bị bí tích Thánh Tẩy và Rước Lễ lần đầu cho con cái, hay vào dịp lãnh nhận bí tích Hôn Nhân. Nhiệm vụ này có nét đặc trưng riêng mà những chiều kích khác như vấn đề tiếp nhận và vấn đề rao giảng Tin Mừng lần đầu tiên đều quy về đó và giáo lý viên có dịp trở thành người đồng hành trong việc tìm kiếm đức tin.

            - Những mẫu giáo lý viên khác cũng đang rất cần thiết là giáo lý viên dành cho loại người nhạy cảm đặc biệt: người cao niên[68]đang cần một sự trình bày Tin Mừng thích hợp với những điều kiện sống của họ, người thiếu thích nghi hay khuyết tật đang cần một khoa sư phạm giáo lý đặc biệt[69]để có thể hội nhập trọn vẹn vào cộng đoàn, người nhập cư và người sống bên lề xã hội do sự phát triển thời hiện đại[70].

            - Những mẫu giáo lý viên khác nữa có thể nên có. Sau khi đã nghiên cứu tình hình văn hóa, tôn giáo của mình, mỗi Giáo Hội địa phương phải khám phá ra những nhu cầu riêng và phải dự liệu một cách thực tế mẫu người giáo lý viên mà Giáo Hội đó cần đến. Công việc căn bản của Giáo Hội địa phương lúc ấy sẽ là hướng dẫn và tổ chức công cuộc đào tạo giáo lý viên.




[1]Trong phần thứ năm này cũng như phần còn lại của cuốn Hướng dẫn, thành ngữ “Giáo Hội địa phương” chỉ giáo phận và những đồng hóa của nó (CIC 368). Thuật ngữ “Giáo Hội cấp vùng” chỉ những tập hợp Giáo Hội địa phương đã được thiết lập cố định trong một miền hay trong một nước cũng có khi là nhiều nước hợp lại với nhau bằng những mối liên hệ riêng biệt. Xem phần I, chương 3: “Việc dạy giáo lý là một hoạt động mang tính Hội Thánh” và ở phần II, ch.I ; “Tính Hội Thánh của sứ điệp Tin Mừng”.

[2]Như LG 26a đã lưu ý, những tập thể hợp pháp của các tín hữu mang tên là “những Hội Thánh” trong Tân Ước; xem những bản văn Thánh Kinh dẫn nhập phần này.

[3]x. CD 11.

[4]Giáo Hội địa phương đã được miêu tả trước hết như là “một thành phần của Dân Chúa” (CD 11).

[5]BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Thư Communionis notio, số 7; AAS 85 (1993), tr.842.

[6]Ibid., 9b.

[7]LG 23b lấy lại chứng tá của Thánh Hilaire de Poitiers: Trong Thánh Vịnh 14,3 (PL 9,206) và của Thánh Grêgôriô Cả: Moral, IV, 7, 12 (PL 75, 643C).

[8]EN 14.

[9]x. Cv 2,11.

[10]Communionis notio 7: l.c 842.

[11]Ibid.  9b : l.c. tr. 843; x. AG 4.

[12]Thành ngữ thừa tác vụ huấn giáo đã được dùng ở CT 13.

[13]Cần phải nhấn mạnh đến tính cách phục vụ duy nhất mà việc dạy giáo lý đảm nhận trong các Giáo Hội địa phương. “Chủ thể”của các công trình lớn lao trong việc Phúc Âm hóa là Giáo Hội địa phương. Chính Giáo Hội địa phương loan báo, truyền đạt Tin Mừng và cử hành. Các tác nhân “phục vụ” trong thừa tác vụ này và hành động “nhân danh Hội Thánh”. Tính “Hội Thánh” của việc dạy giáo lý có những hàm ý lớn về thần học, tu đức và mục vụ.

[14]x. CT 16: Đây là một thứ trách nhiệm vừa chung nhưng lại vừa khác biệt. Xem thêm ghi chú 55, để làm sáng tỏ cách dùng thành ngữ “thừa tác vụ Lời Chúa” ở số 50.

[15]AG 14; CT 16 đều phát biểu theo nghĩa đó: “Việc dạy giáo lý đã luôn luôn và sẽ là một công trình mà toàn thể Hội Thánh phải cảm nhận và tự cho mình có trách nhiệm”. Xem thêm: MPD 12; RICA 41; CIC 774, 1.

[16]“Huấn giáo phải được biện hộ bằng chứng tá của cộng đoàn Hội Thánh” (DGC (1971) 35); x. phần IV ch.2.

[17]CT 24.

[18]“Ngoài công việc tông đồ liên quan đến tất cả các Kitô hữu không trừ ai, thì giáo dân còn được kêu gọi cộng tác trực tiếp vào việc tông đồ của hàng Giáo phẩm bằng nhiều cách khác nhau, theo cách mà những tín hữu nam nữ đã từng giúp đỡ thánh Phaolô tông đồ trong việc rao giảng Tin Mừng, họ đã làm việc một cách quảng đại trong Chúa (LG 33). Giáo huấn này của công đồng đã được nhắc lại trong CIC 228 và 759”.

[19]LG 25; x. CD 12a; EN 68c.

[20]LG 25.

[21]Ibid.

[22]DV 8.

[23]CT 63b.

[24]x. CT 12a.

[25]CT 63c.

[26]CT 63d; x. CIC 775 § 1.

[27]x. CT 63c ; CIC 823 § 1.

[28]CT 63d.

[29]CD 14b; x. CIC 780.

[30]x. PO 8; 6; 12a; GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn hậu Thượng hội đồng Giám Mục Pastores dabo vobis (25.3.1992) số 12 : l.c. 675-677.

[31]PO6b.

[32]x. CIC 773.

[33]LG 10.

[34]LG 10. Nói về “hai cách thế tham gia vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô”. x. CEC 1546-1547.

[35]PO9b.

[36]x. CIC 776-777.

[37]CT 64. Về định hướng căn bản mà các linh mục phải đem lại cho việc dạy giáo lý, thì công đồng Vaticanô II đã chỉ ra hai đòi hỏi nền tảng: “Giảng dạy không phải là dạy sự khôn ngoan riêng mình mà là dạy Lời của Chúa” (PO 4) và “Đừng chỉ trình bày Lời Chúa bằng những hạn từ chung chung và trừu tượng,… mà phải áp dụng chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng vào những trường hợp cụ thể của đời sống” (Ibid.)


[38]x. chương 3 của phần này đoạn bàn về « gia đình như là môi trường hay phương tiện tăng trưởng trong đức tin », phân tích các đặc tính của huấn giáo gia đình. Số này bàn nhiều đến các bậc cha mẹ như  những tác nhân của huấn giáo.

[39]CT 68.

[40]Ibid.

[41]Ibid.

[42]x. ChL 62 ; FC 38.

[43]FC 38.

[44]CT 68 ; x. EN 71b.

[45]x. CT 68.

[46]LG 11 ; x. FC 36b.

[47]CT 65 ; x. CIC 778.

[48]CEC 915 ; x. LG 44.

[49]EN 69 ; x. VC 33.

[50]x. VC 31 « Các tương quan giữa những tình trạng khác nhau trong đời sống Kitô hữu » ; x. CEC 932.

[51]CT 65 ; x. RM 69.

[52]CT 65.

[53]x. 1Co 12,4 ; LG 12b.

[54]LG 31. ChL phân tích cách chi tiết « tính cách thế tục » này.

[55]LG 35.

[56]AA 2b ; x. Rituale Romanum, Ordo Baptismi Parvulorum, số 62, Editio Typica, Typis Polyglottis Vaticanis 1969; RICA 224.

[57]CEC 429.

[58]Giáo luật thiết định rằng quyền bính của Hội Thánh có thể chính thức trao cho giáo dân một chức vụ hay công việc của Hội Thánh, mà không phải lo lắng xem công việc ấy có hay không là một “thừa tác vụ” không chức thánh được qui định rõ ràng: “Những giáo dân thích đáng có khả năng được các Mục Tử có chức thánh tuyển chọn vào các chức vụ và trọng trách trong Hội Thánh (officia ecclesiastica et munera) mà các khoản luật cho phép họ chu toàn.”(CIC 228 § 1); x. EN 73; ChL 23.

[59]CT 66b ; x. GCM.

[60]CT 66b.

[61]GCM 4.

[62]Ibid.

[63]CT 45 ; x. RM 37 mục b, phần 2.

[64]RM 33.

[65]CT 66a.

[66]Ibid.

[67]x. DGC (1971)  96c.

[68]x. CT 45; x. DGC (1971) 95.    

[69]x. DGC (1971) 91 ; CT 41.

[70]CT 45a.

    Lượt xem ( 933)

Bài viết khác

TRANG TIN CỦA ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HĐGM VIỆT NAM
Phụ trách: ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN
Địa chỉ: Phòng số D4, Trung Tâm Mục Vụ, 6bis Tôn Đức Thắng, Q.1, Tp.HCM
Tel: +84.8.39118404; Email: vpubgldt@gmail.com; Websites: giaolyductin.net, giaolyductin.com, giaolyductin.org
Copyright © 2011 ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HĐGM VN. All Rights Reserved. Designed by Fr.Hải, Miss.Bon & Mr.Hùng
Lượt truy cập : 373530
Hôm nay : 10543
Ngày hôm qua : 11462
Trong tuần này : 5120
Trong tháng này : 27485